Những chính sách pháp luật có hiệu lực từ tháng 8 năm 2026

Từ ngày 01/8/2026 nhiều chính sách pháp luật chính thức có hiệu lực, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, hoạt động của doanh nghiệp cũng như công tác quản lý nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là các chính sách liên quan đến lĩnh vực hành chính, thuế, doanh nghiệp...và nhiều lĩnh vực khác.

Từ ngày 01/8/2026 nhiều chính sách pháp luật chính thức có hiệu lực, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, hoạt động của doanh nghiệp cũng như công tác quản lý nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là các chính sách liên quan đến lĩnh vực hành chính, thuế, doanh nghiệp...và nhiều lĩnh vực khác.

Sau đây là những tóm tắt các chính sách, pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 8 năm 2026 liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và liên quan mật thiết đến đời sống của Nhân dân:

1. Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. 

Cụ thể, tại Điều 4 Nghị định số 281/2026/NĐ-CP này đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CР quy định mức xử phạt đối với hành vi không đăng ký đất đai theo hướng bổ sung quy định về trường hợp không bị xử phạt.

Theo đó: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai 2024.

Ngoài ra, Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Điều 30, Điều 31 về thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; cơ quan thanh tra chuyên ngành.

Theo quy định mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 250.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP (theo quy định cũ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có quyền phạt tiền đến 5.000.000 đồng).

Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành về đất đai do Cục trưởng Cục Quản lý đất đai thành lập, Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ thành lập, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường có quyền phạt tiền đến 400.000.000 đồng (quy định cũ là 50.000.000 đồng); tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng...

Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành về đất đai do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ có quyền phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung, giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 3 tháng...

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ, các chức danh thanh tra thuộc lực lượng Công an nhân dân quy định tại Điều 7 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất an ninh theo quy định tại Nghị định này.

Các chức danh Công an theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất an ninh quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 12; khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 13; Điều 15; khoản 3 Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP theo thẩm quyền.

Nghị định số 281/2026/NĐ-CP này có hiệu lực từ ngày 31/8/2026.

2. Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe, ban hành ngày 26/6/2026.

Ngày 26/06/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 168/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/08/2026.

Nghị định 238/2026/NĐ-CP điều chỉnh các quy định liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, bao gồm việc trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe. Đối tượng áp dụng là các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định giao thông đường bộ.

- Thiết bị giám sát và an toàn trên xe

Nghị định yêu cầu lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, ghi nhận hình ảnh người lái xe, khoang chở khách, dây đai an toàn, ghế ngồi cho trẻ em trên xe theo quy định. Các thiết bị này phải cung cấp, cập nhật, truyền dẫn, lưu trữ, quản lý thông tin, dữ liệu theo quy định.

- Quy định về chở trẻ em

Người điều khiển xe ô tô chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp sẽ bị phạt cảnh cáo. Trẻ em không được ngồi cùng hàng ghế với người lái xe, trừ trường hợp xe chỉ có một hàng ghế.

- Biển số xe và vật liệu chở trên xe

Nghị định quy định rõ về việc gắn biển số xe đúng vị trí, quy cách, không làm thay đổi khả năng nhận diện thông tin. Việc chở vật liệu xây dựng, đất đá, phế thải mà không che đậy, làm rơi vãi xuống đường cũng bị xử phạt.

- Quy định về hợp đồng vận tải

Xe vận tải hành khách theo hợp đồng phải có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách theo quy định. Việc đón, trả khách không đúng địa điểm hoặc không đúng đối tượng sẽ bị xử phạt.

- Thẩm quyền xử phạt

Nghị định quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và Công an nhân dân, với mức phạt tiền tối đa lên đến 75.000.000 đồng tùy theo cấp độ vi phạm và thẩm quyền của người ra quyết định xử phạt.

Nghị định 238/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 15/08/2026

3.  Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 thì nguyên tắc xem xét, quyết định đưa người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc

Ngày 08/07/2026, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc (Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16).

 

- Chỉ xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi (sau đây gọi là người bị đề nghị) khi thuộc một trong các trường hợp bị đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

- Việc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người bị đề nghị; bảo đảm thủ tục thân thiện, phù hợp với tâm lý, giới, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người bị đề nghị.

- Bảo đảm quyền bí mật đời sống riêng tư của người bị đề nghị.

- Bảo đảm quyền của người bị đề nghị được tham gia, trình bày ý kiến trước Tòa án, tranh luận tại phiên họp theo quy định của Pháp lệnh này.

- Người bị đề nghị, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị có quyền tự mình hoặc nhờ luật sư, người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị.

Trường hợp người bị đề nghị không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Tòa án bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị.

- Việc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc do một Thẩm phán thực hiện. Khi xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành phiên họp xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc.

- Bảo đảm việc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc được tiến hành nhanh chóng, kịp thời.

- Tiếng nói, chữ viết dùng trong việc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Tòa án là tiếng Việt.

Người bị đề nghị, cha, mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình và phải có người phiên dịch.

- Bảo đảm quyền được xem xét theo hai cấp trong việc xem xét, quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 có hiệu lực từ ngày 1/8/2026.

4. Nghị định 274/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh.

Ngày 07/07/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 274/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh. Đối tượng hưởng ưu đãi khi lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh 

Theo đó, đối tượng được hưởng ưu đãi và mức ưu đãi được quy định như sau:

- Nhà đầu tư có giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường đối với dự án thuộc nhóm có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường được hưởng mức ưu đãi 5% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

- Nhà đầu tư cam kết chuyển giao công nghệ, thực hiện hoạt động công nghệ cao đối với các công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triền và Danh mục sản phầm công nghệ cao được khuyến khích phát triển do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định của pháp luật về công nghệ cao hoặc thuộc Danh mục công nghệ khuyển khích chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ hoặc thuộc danh mục công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi 2% khi đánh giá hồ sơ dự thầu.

- Nhà đầu tư là doanh nghiệp khoa học và công nghệ; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền công nhận; trung tâm đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi 5% khi đánh giá hồ sơ dự thầu;

- Nhà đầu tư nước ngoài có cam kết chuyển giao công nghệ cho nhà đầu tư, đối tác trong nước được hưởng mức ưu đãi 2% khi đánh giá hồ sơ dự thầu. Khi tham dự thầu, nhà đầu tư phải nộp các tài liệu chứng minh giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất, quyền sử dụng hợp pháp công nghệ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, pháp luật khác có liên quan để được hưởng ưu đãi quy định trên. 

Nghị định 274/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 21/8/2025, trừ quy định tại Điều 74 Nghị định 274/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 07/07/2026.

5. Nghị quyết 66.22/2026/NQ-CP của Chính phủ về phát triển công dân số 

Nghị quyết 66.22/NQ-CP áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, tại Điều 7 Nghị quyết 66.22/NQ-CP quy định phát triển ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) như sau:

(1) Ứng dụng định danh quốc gia được phát triển, mở rộng để cung cấp các tiện ích số cho công dân, trong đó gồm các chức năng chính sau:

- Truy cập dữ liệu số của công dân;

- Định danh và xác thực điện tử; cung cấp miễn phí dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho cá nhân phục vụ thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thủ tục hành chính;

- Là nền tảng hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến và nộp hồ sơ thủ tục hành chính trên môi trường điện tử;

- Liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, tài khoản tiền di động trên ứng dụng định danh quốc gia để hỗ trợ cho thanh toán dịch vụ công, chỉ trả an sinh xã hội và các giao dịch thanh toán hợp pháp khác;

- Cung cấp kênh giao tiếp chính thức, đảm bảo an toàn, bảo mật, hiệu quả giữa người dân với Nhà nước, người dân với doanh nghiệp và người dân với người dân.

(2) Cơ quan chủ quản, vận hành hệ thống định danh và xác thực điện tử và quản lý, phát triển ứng dụng định danh quốc gia là Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

(3) Hệ thống định danh và xác thực điện tử, ứng dụng định danh quốc gia được đầu tư, vận hành đảm bảo tính liên tục, thông suốt, đáp ứng yêu cầu xử lý khối lượng giao dịch lớn.

(4) Việc sử dụng tài khoản định danh điện tử, dịch vụ xác thực điện tử trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến có giá trị pháp lý khẳng định chủ thể đã thực hiện, chấp thuận giao dịch, thủ tục đó.

Theo Điều 5 Nghị quyết 66.22/NQ-CP, chính sách của Nhà nước khuyến khích công dân số bao gồm:

- Công dân hoàn thành việc tích hợp 05 loại thông tin, giấy tờ cơ bản trên ứng dụng VNeID tại Phụ lục I và thực hiện thủ tục hành chính đáp ứng điều kiện quy định tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết 66.22/NQ-CP thì được miễn, giảm phí, lệ phí tương ứng của thủ tục hành chính đỗ.

- Công dân là người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc đối tượng khác được hưởng các chính sách khuyến khích khác theo quy định của pháp luật ngoài quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 66.22/NQ-CP thì được áp dụng mức ưu đãi cao nhất.

- Công khai, minh bạch và chia sẻ dữ liệu về mức độ được hưởng chính sách khuyến khích của Nhà nước:

+ Mức độ được hưởng chính sách của Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều này được hiển thị trên ứng dụng định danh quốc gia gắn với tài khoản định danh điện tử của cá nhân đó;

+ Hệ thống định danh và xác thực điện tử thực hiện chia sẻ thông tin về mức độ được hưởng các chính sách của Nhà nước theo yêu cầu của cá nhân cho Cổng Dịch vụ công Quốc gia, các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và các hệ thống thông tin khác để làm căn cứ triển khai các chính sách ưu đãi.

- Việc áp dụng các chính sách khuyến khích tại Nghị quyết này không làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong việc lựa chọn phương thức tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo quy định của pháp luật.

6. Nghị định 204/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y

Ngày 11/06/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 204/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, có hiệu lực từ ngày 01/08/2026.

Nghị định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực thú y trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và hộ kinh doanh, hộ gia đình.

- Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

Hình thức xử phạt chính là phạt tiền, với mức tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức. Ngoài ra, có thể áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề thú y hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn. Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm buộc tiêu hủy, tái xuất động vật, sản phẩm động vật, thuốc thú y không đạt tiêu chuẩn, và nộp lại số lợi bất hợp pháp.

- Vi phạm về phòng, chống dịch bệnh động vật

Các hành vi vi phạm bao gồm không chấp hành việc lấy mẫu xét nghiệm, sử dụng thuốc thú y không đúng quy định, che giấu bệnh dịch, và không báo cáo kịp thời khi phát hiện dịch bệnh. Mức phạt dao động từ 200.000 đồng đến 50 triệu đồng tùy theo mức độ vi phạm.

- Vi phạm về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật

Vi phạm trong kiểm dịch bao gồm không đăng ký kiểm dịch, trốn tránh kiểm dịch, và vận chuyển động vật không đúng quy định. Mức phạt từ 1 triệu đồng đến 50 triệu đồng, kèm theo các biện pháp khắc phục như buộc kiểm dịch lại hoặc tiêu hủy sản phẩm.

- Vi phạm về quản lý thuốc thú y

Các vi phạm liên quan đến thuốc thú y bao gồm sản xuất, buôn bán, nhập khẩu thuốc không đạt tiêu chuẩn, không có giấy phép, hoặc chứa chất cấm. Mức phạt có thể lên đến 100 triệu đồng, kèm theo biện pháp khắc phục như thu hồi, tiêu hủy thuốc vi phạm.

- Thẩm quyền xử phạt

Thẩm quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan và Quản lý thị trường, với mức phạt tối đa 50 triệu đồng và các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng.

Nghị định 204/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2026

7. Nghị định 211/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi

Ngày 16/06/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 211/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi, có hiệu lực từ ngày 05/08/2026.

Nghị định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, hợp tác xã, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác.

- Thời hiệu và hình thức xử phạt

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi là 01 năm, riêng một số hành vi cụ thể có thời hiệu 02 năm. Hình thức xử phạt chính bao gồm cảnh cáo hoặc phạt tiền, với mức phạt tối đa là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức. Ngoài ra, có thể áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật vi phạm.

- Biện pháp khắc phục hậu quả

Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm buộc tái chế, chuyển đổi mục đích sử dụng, sửa đổi thông tin trên nhãn sản phẩm, di dời vật nuôi, giết mổ động vật bị bơm nước cưỡng bức, và nộp lại giấy chứng nhận bị tẩy xóa, sửa chữa.

- Vi phạm về giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi

Các hành vi vi phạm liên quan đến giống vật nuôi như khai thác nguồn gen không đúng quy định, xuất khẩu trái phép, và nhập khẩu không đảm bảo chất lượng sẽ bị xử phạt từ 5 triệu đến 50 triệu đồng. Đối với thức ăn chăn nuôi, vi phạm về điều kiện sản xuất, chất lượng, và sử dụng nguyên liệu không đúng quy định có thể bị phạt từ 3 triệu đến 100 triệu đồng.

- Vi phạm về điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải

Vi phạm về điều kiện chăn nuôi, như không đảm bảo khoảng cách an toàn, chăn nuôi tại khu vực cấm, và không xử lý chất thải đúng quy định, sẽ bị phạt từ 1 triệu đến 30 triệu đồng. Các biện pháp khắc phục bao gồm di dời vật nuôi, giảm quy mô chăn nuôi, và thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

- Thẩm quyền xử phạt

Thẩm quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y, Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, và Hải quan, với mức phạt tối đa lên đến 100 triệu đồng.

Nghị định 211/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/08/2026

8. Nghị định 214/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật

Ngày 18/06/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 214/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, có hiệu lực từ ngày 05/08/2026.

Nghị định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, hộ gia đình, và hộ kinh doanh.

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, ngoại trừ các vi phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ và sản xuất, buôn bán giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thực vật, sản phẩm thực vật, thời hiệu là 02 năm.

- Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

Các hình thức xử phạt chính bao gồm cảnh cáo và phạt tiền. Hình thức xử phạt bổ sung có thể là tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động, hoặc tịch thu tang vật. Biện pháp khắc phục hậu quả có thể bao gồm tiêu hủy, thu hồi, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng các sản phẩm vi phạm.

- Mức phạt tiền

Mức phạt tiền tối đa cho một hành vi vi phạm trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón) là 50 triệu đồng đối với cá nhân, và 100 triệu đồng đối với vi phạm liên quan đến phân bón. Mức phạt đối với tổ chức vi phạm là gấp đôi mức phạt đối với cá nhân.

- Xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

Việc xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được áp dụng khi đảm bảo điều kiện về hạ tầng, kỹ thuật và thông tin, tuân thủ quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và giao dịch điện tử.

Nghị định này thay thế Nghị định số 31/2016/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi, bổ sung liên quan, nhằm cập nhật và điều chỉnh các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Nghị định 214/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/08/2026

                                                                                                                                                                          Phan Thị Nhung – Văn phòng HĐND và UBND xã

Xem nhiều nhất